PDA

View Full Version : Thiết lập BIOS (phần 1)


admin
05-07-2009, 12:26 AM
Sau khi lắp ráp, người sử dụng cần đi qua công đoạn khai báo các thông số trong BIOS th́ mới dùng được máy. Chương tŕnh này sẽ giúp PC quản lư hệ thống, bao gồm tất cả những linh kiện, thiết bị mà bạn đă lắp vào.

Khái niệm về BIOS

Đây là chữ viết tắt của basic input/output system (hệ thống đầu vào/đầu ra cơ bản). Về thực chất BIOS là phần mềm tích hợp sẵn, xác định công việc máy tính có thể làm mà không phải truy cập vào những chương tŕnh trên đĩa.

Chương tŕnh này thường được đặt trong chip ROM đi cùng máy tính, độc lập với các loại đĩa, khiến cho máy tính tự khởi động được. Các thông số của BIOS được chứa tại CMOS, một chip bán dẫn khác hoạt động bằng pin và độc lập với nguồn điện của máy.

Do RAM luôn nhanh hơn ROM nên nhiều nhà sản xuất đă thiết kế để BIOS có thể sao từ ROM sang RAM mỗi lần máy tính khởi động. Quá tŕnh này được gọi bằng cái tên shadowing.

BIOS của PC được thiết kế khá sát với tiêu chuẩn nên dù có nhiều phiên bản khác nhau, chúng vẫn giống nhau trên mọi máy. Nhiều PC hiện đại chứa BIOS flash, nghĩa là BIOS đă được sao vào chip nhớ flash để nâng cấp khi cần thiết và không cần đến pin nuôi. Khi công nghệ mới ra đời và các lỗi cũ được phát hiện, nhà sản xuất thường đưa ra phiên bản BIOS cập nhật để giải quyết trục trặc và nâng cao tốc độ hoạt động của hệ thống.

Việc cập nhật BIOS được thực hiện khá đơn giản nhưng phải hết sức thận trọng và nên tuân theo những quy định sau:

- Nếu hệ thống chạy ổn định, không có lỗi ǵ th́ không nên nâng cấp BIOS.

- Nếu cần nâng cấp, hăy đọc kỹ hướng dẫn của chương tŕnh trước khi bắt tay vào thực hiện.

Màn h́nh Bios Setup đa số là màn h́nh chạy ở chế độ TEXT. Gần đây đang phát triển loại BiosWin (Ami) có màn h́nh Setup gồm nhiều cửa sổ giống tương tự Windows và sử dụng được Mouse trong khi Setup nhưng các mục vẫn không thay đổi.

Các loại BIOS

Thường th́ bạn vẫn quen bấm phím Delete để vào phần thiết lập BIOS. Tuy nhiên, đó chỉ là thao tác đối với phần lớn các máy có xuất xứ từ Đông Nam Á. Ở các loại máy tính khác (sản xuất từ Mỹ chẳng hạn), người dùng phải thông qua chương tŕnh quản lư riêng để thay đổi các thông số BIOS.

Hiện nay có 2 loại BIOS:

- BIOS dạng text. Người dùng sẽ di chuyển phím hướng để đưa vệt sáng đi tới các lựa chọn. Nhấn Enter để quyết định, Esc để thoát (gơ Y khi muốn lưu thay đổi, N là không lưu).

- BIOS Win. Đây là loại BIOS mới được phát triển. Thay v́ màn h́nh dạng text thông thường, các thông số hiện ra trên màn h́nh màu với nhiều cửa sổ. Người dùng có thể di chuột hoặc phím hướng để chọn lựa.

Nguồn: VNexpress

admin
05-07-2009, 12:28 AM
Thiết lập BIOS (phần 2)

Phần này sẽ giới thiệu thiết lập cơ bản liên quan đến ngày, giờ trên máy tính, khai báo các loại ổ, màn h́nh hay bàn phím. Đây là những thành phần chính mà BIOS trên các loại PC phải nhận biết để quản lư và điều khiển chúng.

Khi vào chương tŕnh này, chọn Standard CMOS Setup.
Date. Đây là nơi khai báo ngày tháng với các định dạng khác nhau, tùy theo máy. Ví dụ: mm/dd/yy là kiểu ghi tháng/ngày/năm.

Time. Có loại máy yêu cầu dùng hệ giờ 24. Chỉ cần di chuyển con trỏ đến các vị trí của giờ, phút, giây, bạn có thể nhập số từ bàn phím.

Trong các bản Windows mới, người dùng thay đổi được thông số về thời gian trong Start > Control Panel > Date and Time. Dù BIOS dùng hệ giờ 24 nhưng bạn vẫn có thể cho hiển thị trên khay đồng hồ theo hệ giờ 12 (AM/PM) bằng cách thiết lập trên Windows.

IDE Primary Master
Đây là nơi khai báo các thông số của ổ cứng. Nếu khai báo sai, ổ có thể không hoạt động, thậm chí bị hỏng. Ví dụ, khi nhập số dung lượng cao quá mà tiến hành các lệnh Fdisk hay Format, thiết bị này sẽ bị "đơ".

Tuy nhiên, những BIOS đời mới có phát triển thêm tính năng ḍ t́m thông số ổ cứng IDE một cách tự động. Bạn chỉ cần bấm Enter > tại IDE HDD Auto-Detection, nhấn Enter tiếp. Các chế độ tiếp theo, để ở mặc định Auto.

Nếu máy chỉ có 1 ổ cứng hoặc 2 ổ chia ổ chính (Master), phụ (Slave) th́ đây là nơi đặt Master. Việc khai báo này phải đúng với cách đặt chân răm (jumper) trên 2 ổ. Hiện nay, các loại ổ đời mới chỉ có 1 jumper cho 3 vị trí: ổ duy nhất, Master và Slave (sơ đồ cắm chân răm đă in sẵn trên ổ cứng). Loại ổ thế hệ cũ có nhiều chân răm nên nếu dùng, bạn phải tuân theo tài liệu hướng dẫn một cách cẩn thận.

IDE Primary Slave

Đây thường là nơi khai báo ổ cứng thứ 2 cắm ở chế độ Slave. Bạn cũng có thể nhập thông số bằng tay hoặc ḍ t́m tự động. Nếu máy không cài ổ này th́ phần khai báo để None.

IDE Secondary Master

Do BIOS đời mới hỗ trợ cắm đến 4 ổ cứng, người dùng có thể lắp ổ cứng thứ 3 và khai báo tại đây. Tuy nhiên, cáp IDE thứ 2 cũng có thể nối được với ổ đa phương tiện (CD hoặc DVD) nên đây thường là nơi khai báo loại ổ này. Cách cắm jumper cho ổ CD cũng giống như trường hợp ổ cứng.

Người dùng cũng có thể nhập thông số bằng tay hoặc để ở chế độ ḍ t́m tự động.

Nếu không có ổ nào cắm ở dây IDE thứ 2 này, bạn để ở trạng thái None.

IDE Secondary Slave

Đây là nơi khai báo cho ổ cứng thứ 4 hoặc ổ quang thứ 2. Một dây IDE có thể nối 2 ổ cùng loại hoặc 1 ổ cứng, 1 ổ CD, miễn là cách đặt chân răm phải tuân theo luật chính - phụ.

Khai báo ổ mềm

Thường th́ Drive A và Drive B dùng để khai báo cho ổ đĩa mềm. Tuy nhiên, hiện nay không c̣n nhiều người dùng thiết bị vừa dễ hỏng, vừa lưu được ít dữ liệu này.

Chế độ Halt On

Một số PC cho phép bạn "sai khiến" BIOS phản ứng với các lỗi trong quá tŕnh kiểm tra máy.

All Error: Khi chọn mục này, máy sẽ treo khi phát hiện bất cứ lỗi nào. Bạn không nên chọn v́ Bios sẽ treo máy khi gặp lỗi đầu tiên và bạn sẽ không thể biết các lỗi khác, nếu có.

No Errors: Quá tŕnh tự kiểm tra của máy sẽ được thực hiện cho đến khi hoàn tất. Máy không treo dù phát hiện bất cứ lỗi ǵ. Người dùng nên chọn mục này để biết bộ phận nào bị trục trặc và t́m cách giải quyết.

All But Keyboard: Tất cả các lỗi, ngoại trừ bàn phím.

All But Diskette/Floppy: Máy treo với tất cả các lỗi, trừ lỗi ổ đĩa và bàn phím.

Nguồn: Vnexpress

admin
05-07-2009, 12:32 AM
Thiết lập BIOS (phần 3)
Các mục thiết lập nâng cao cho phép người sử dụng chọn thứ tự ổ đĩa boot, đặt tốc độ gơ bàn phím, tăng tốc cho quá tŕnh khởi động... Ngoài ra, bạn c̣n giới hạn được việc thay đổi BIOS hoặc ngăn người khác xâm nhập vào máy tính.
Vào Advanced Bios Features, nhấn Enter. Tại đây có các mục như sau:
Virus Warning (cảnh báo có virus)

Phần cài đặt này có cái tên "ngớ ngẩn" nhất trong BIOS. Trên thực tế, nó không thể cho biết chương tŕnh nào là virus, chương tŕnh nào là "trong sạch".

Về mặt ư tưởng, khi đặt Enabled, Bios sẽ báo động và treo máy nếu có hành động viết vào boot sector (vùng khởi động) hay partition của đĩa cứng. Nhưng do không phân biệt được, nó chỉ đóng vai tṛ ḍ t́m bất kỳ và tất cả những ǵ được viết vào Master Boot Record của đĩa cứng rồi thể hiện câu hỏi trên màn h́nh xem bạn có đồng ư cho chép hay không.

Do virus phổ biến nhất thường xâm nhập boot sector nên khi cài đặt như vậy, bạn có thể hạn chế sự lây lan. Nhưng đối với những chương tŕnh hợp pháp khác, những ḍng thông báo không mong muốn sẽ hiện ra, khiến người sử dụng bối rối. Trong trường hợp này, bạn nhấn vào nút Authorize để thực hiện. Hoặc, trước khi tiến hành các lệnh như Format hay Fdisk, hăy nhớ vào BIOS để chọn Disabled cho mục này.

Chú ư: Do Virus Warning tỏ ra không hiệu quả, một số BIOS đă bỏ mục này.

CPU L1 & L2 Cache

Một số BIOS tách rời phần này làm 2 mục là Internal Cache và Extenal Cache.

Cài đặt cho Cache L1 (level 1 cahe) sẽ tắt/bật cache nội trên vi xử lư. Đối với ḍng chip 486 hoặc về sau này, bạn nên bật v́ nếu tắt, máy sẽ gặp trục trặc lớn. Người dùng chỉ nên tắt v́ mục đích kiểm tra lỗi hoặc nghi ngờ hoạt động của chip xử lư. Trên một vài loại BIOS, bạn có thể thấy 3 lựa chọn: Disabled, Write Through và Write Back. Trong đó, Write Back sẽ giúp cho máy hoạt động tốt nhất.

Cài đặt cho Cache L2 sẽ tắt/bật cache ngoại trên vi xử lư. Phần lớn các mainboard 486 hoặc mới hơn đều có cache này. Cũng giống như Cache L1, thiết bị cần được bật suốt thời gian sử dụng và chỉ được tắt v́ mục đích kiểm tra lỗi. Trên một số BIOS, bạn có thể thấy 3 lựa chọn Disabled, Write Through và Write Back. Trong đó, Write Back sẽ giúp cho máy hoạt động tốt nhất.

Chú ư: Cache L2 trên một số bo mạch ở "chợ giời" đă bị làm giả. Cách kiểm tra là vào BIOS để tắt và xem máy có chạy chậm đi hay không. Nếu máy vẫn b́nh thường, cache L2 thực không có. Ngoài ra, một số máy c̣n thông báo cache L2 này Enabled ngay cả khi nó bị Disabled. Dấu hiệu này chứng tỏ BIOS đă bị "phẫu thuật".

Quick Power On Self Test / Quick Boot/ Fast Boot

Bật mục này sẽ khiến quá tŕnh khởi động bỏ qua một số bước(như kiểm tra bộ nhớ mở rộng nhằm phát hiện lỗi) để giảm thời gian.

Tuy nhiên, khi làm như vậy, bạn cũng tăng nguy cơ bỏ sót lỗi. Nếu có RAM lớn, đặt Disabled cho mục này là an toàn nhất.

Chọn thứ tự cho thiết bị khởi động

Người dùng có thể khởi động máy từ nhiều ổ khác nhau như ổ cứng, ổ CD, đĩa mềm hay ổ USB.

Chọn khởi động đầu tiên là ổ cứng có ưu điểm là nhanh nhưng trong trường hợp ổ đĩa hay hệ điều hành bị trục trặc, người dùng có thể chọn lại (như CD hay USB) để cài đặt.

Swap Floppy

Tráo đổi tên 2 ổ đĩa mềm, khi chọn mục này bạn không cần khai báo lại loại ổ đĩa như khi tráo bằng cách đặt jumper trên card I/O.

Seek Floppy

Nếu Enable, BIOS sẽ ḍ t́m kiểu của đĩa mềm là 80 track hay 40 track. Nếu Disable, BIOS sẽ bỏ qua. Chọn Enable làm chậm thời gian khởi động v́ BIOS luôn phải đọc đĩa mềm trước khi đọc đĩa cứng (dù đă chọn chỉ khởi động bằng ổ C).

Boot Up Num - Lock LED
Khi dùng chế độ ON cho phím Numlock mở (đèn Numlock sáng), nhóm phím bên tay phải được dùng để đánh số. Khi đặt chế độ OFF, nhóm phím này được dùng để di chuyển con trỏ.

Gate A20 Option
A20 là ḍng địa chỉ thứ 21 trong bộ nhớ, được điều khiển bằng "chỉ huy" của bàn phím. Để chipset điều khiển A20 và tăng cường khả năng hoạt động của máy, hăy chọn Enabled. Rất hiếm lư do khiến người ta tắt chức năng này. V́ vậy, một số ḍng máy mới thay bằng các lựa chọn khác là Normal và Fast để người dùng quyết định mức độ làm việc của vi xử lư.

Typematic Rate Setting
Nếu chọn Enabled, bạn kích hoạt 2 chức năng dưới đây:

Typematic Rate (Chars/Sec): Mục này sẽ giúp bạn chọn số kư tự/giây tuỳ theo tốc độ đánh phím nhanh hay chậm. Nếu thiết lập thấp hơn tốc độ đánh th́ máy sẽ phát ra tiếng bip (v́ nó không chạy kịp).

Typematic Delay (Msec): Thiết lập này điều khiển khả năng lặp lại tự động của bàn phím, nghĩa là độ dài thời gian nhấn phím trước khi nó bắt đầu lặp lại tự động. Thường th́ ta để từ 200 - 1000 mili giây.

Chú ư: Một số loại bàn phím cao cấp đă tích hợp chức năng tương đương.

Security Option

Phần này dùng để giới hạn việc sử dụng hệ thống và Bios Setup.

Setup: Giới hạn việc thay đổi Bios Setup. Khi muốn vào Bios Setup bạn phải đánh đúng mật khẩu đă quy định trước.

System/Always: Giới hạn việc sử dụng máy. Mỗi khi mở máy, BIOS luôn luôn hỏi mật khẩu. Nếu bạn không biết mật khẩu hoặc gơ sai, BIOS sẽ không cho phép sử dụng máy.

Chú ư: Do chưa chọn mục đặt mật khẩu, bạn nên để Disabled.

APIC Mode
Nên đặt Disabled v́ chế độ Enabled có thể gây mất ổn định cho máy. V́ khi hệ điều hành đă được cài đặt (như Windows XP), thiết lập này không thể thay đổi nếu bạn không cài lại. Mục đích của nó là mở rộng số ḍng IRQ (Interrupt Request) - mă thông báo sự kiện ngoại vi bắt đầu và kết thúc.

MPS Version Control For OS

MPS là chuẩn đa xử lư của Intel dành để thiết kế PC có dùng vi xử lư Pentium. Nó xác định dung lượng số bộ nhớ và tín hiệu ngắt được chia sẻ. Giá trị 1,1 hoặc 1,4 không thể thay đổi cho nhau nếu APIC Mode để ở trạng thái Disabled.

Nh́n chung, khi thiết lập BIOS nâng cao, người dùng cần nghiên cứu kỹ tài liệu đi kèm và yêu cầu tài liệu này tại nơi bán hàng. Ở các ḍng máy khác nhau, những mục trên BIOS khá khác nhau.

Nguồn: VNexpress